Cà phê nàng hầu

Cà phê nàng hầu

Cà phê nàng hầu (Maid cà phê) là loại hình kinh doanh cafe mang phong cách cosplay, có nguồn gốc từ Nhật Bản. Quán cafe nàng hầu với đặc điểm là những cô gái phục vụ sẽ ăn mặc theo kiểu những cô hầu ở Pháp, khách vào quán sẽ được các nàng hầu gọi là “cô chủ, cậu chủ” và được phục vụ như những ông hoàng, bà chúa.

Quán cafe nàng hầu có nguồn gốc từ Nhật Bản

Theo tìm hiểu của kinhdoanhcafe.com thì Maid Cafe xuất hiện ở Nhật Bản vào năm 2001, sau đó trở nên phổ biến và xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới như Mĩ, Trung Quốc, Hàn Quốc,… Ở Việt Nam hiện nay đã có sự xuất hiện của Maid Cafe nhưng vẫn chưa phổ biến. Mở quán cafe nàng hầu hứa hẹn sẽ là y tuong kinh doanh cafe doc dao.

Bên cạnh các nàng hầu là điểm thu hút khách hàng thì cách bài trí không gian đậm chất văn hóa Nhật Bản cũng là yếu tố thu hút khách hàng. Nàng hầu sẽ mặc áo đầm quấn tạp dề do quán tự thiết kế, đeo cặp tai thỏ trên tóc. Bất cứ khách nào vào quán, mọi câu nói đều bắt đầu bằng “cô chủ, cậu chủ” như “cô chủ dùng gì?”, “cậu chủ có cảm thấy vui không?”…  Bên cạnh đó để thu hút khách hàng, chủ đầu tư nên đưa vào các chương trình giải trí đang được giới trẻ quan tâm như bói bài, xem phim, chơi game…

Thực khách sẽ được đối xử như những ông hoàng bà chúa
quan-cafe-nang-hau-y-tuong-kinh-doanh-cafe-doc-dao-02

Về đồ uống của quán ngoài cafe là món chính thì nên đa dạng thực đơn cho khách hàng lựa chọn như lẩu kem, sinh tố, cocktail, mocktail và đặc biệt không thể thiếu các đồ uống từ trà xanh, một loại đồ uống rất được ưa chuộng tại Nhật Bản. Theo chị Hương – chuyên gia tư vấn setup quán cafe của kinhdoanhcafe thì hình thức cà phê mới lạ này sẽ thu hút rất nhiều các bạn trẻ, nhất là những bạn có niềm yêu thích văn hóa của xứ sở hoa anh đào.

Đây là mô hình quán cafe thu hút nhiều bạn trẻ

Chị cũng cho biết không có nơi nào không thể kinh doanh, quan trọng hơn là làm cách nào để thu hút được khách hàng, kinh doanh quán cafe muốn thành công, nhất định phải có y tuong kinh doanh cafe doc dao, mới lạ để thu hút các bạn trẻ khi xung quanh đã có nhiều sự lựa chọn. Chị cho biết thêm loại hình cà phê nàng hầu này sẽ tồn tại lâu dài nếu biết cách tính toán cân nhắc lợi nhuận, từng điều nhỏ như thể loại nhạc, không gian, phục vụ… để có lượng khách ổn định. Vì nếu mô hình cà phê chỉ chú trọng nét độc đáo mà không bền vững, chuyện sụp đổ là điều không tránh khỏi,

Thiết kế quán cafe thu hút khách

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống kinh tế xã hội?

Lạm phát (inflation) có ảnh hưởng nhất định nhất định đến sự phát triển kinh tế – xã hội tùy theo mức độ của nó.

Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống. Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không, nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất ngờ. Nếu như lạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạm phát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó. Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế.

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống kinh tế xã hội

 Tác động phân phối lại thu nhập và của cải

Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những  ngươi có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chung đều tăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.

Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là lãi suất cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực là 3%, tỷ lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở mức độ thấp.

Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm

Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân.

Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát tăng lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.

Các tác động khác

Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái.  Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu. Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng,nhiều ngân hàng bị phá sản vì mất khả năng thanh toán, lam phát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị phá hủy, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư. Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của những khoản công phí. Ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái. Tuy nhiên, lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu được trong những trường hợp nhất định. Nếu hệ thống thuế tăng dần (thuế suất lũy tiến) thì tỷ lệ lạm phát cao hơn sẽ đẩy người ta nhanh hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà không phải thông qua luật. Trong thời kỳ lạm phát giá cả hàng hóa – dịch vụ tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền lương danh nghĩa cũng theo xu hướng tăng lên, vì vậy thu nhập thực tế của người lao động nói chung có thể vững hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng suy giảm.

Như vậy lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế – xã hội và nhà nước phải áp dụng những biện pháp thích hợp để kiềm chế, kiểm soát lạm phát.

Theo PGS-TS. Sử Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh Hằng, Gs-TS. Dương Thị Bình Minh, Ths. Phạm Văn Hiếu, Ths. Nguyễn Anh Tuấn, TS. Bùi Thị Mai Hoài, TS. Diệp Gia Luật. 2008. Nhập môn tài chính tiền tệ. Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội. Hà Nội.

Kinh tế học : Người ghét rủi ro là người như thế nào?

Trước hết cần phân biệt tính bất định và rủi ro theo quan điểm của Frank Knight đề xuất cách đây khoảng 60 năm.

Tính bất định là muốn nói đến những tình huống trong đó có khả năng xảy ra nhiều kết cục khác nhau nhưng xác suất xuất hiện các kết cục đó không xác định được. Còn rủi ro ám chỉ những tình huống trong đó chúng ta có thể nêu ra tất cả những kết cục có thể có và biết xác suất xảy ra của mỗi kết cục.

Con người ta mong muốn gánh chịu rủi ro ở những mức độ khác nhau. Một số người ghét rủi ro, số khác thích mạo hiểm, và những người khác thì trung lập. Nếu một người thích có một mức thu nhập nhất định cho trước hơn là một công việc rủi ro có thu nhập kỳ vọng như nhau, thì người đó được coi là người ghét rủi ro (một người như vậy sẽ có độ thỏa dụng biên theo thu nhập giảm dần).

Ghét rủi ro là thái độ phổ biến nhất đối với rủi ro. Để thấy được mọi người trong mọi lúc đều ghét rủi ro, cần lưu ý rằng, người ta thường mua bảo hiểm để đề phòng hàng loạt các kiểu rủi ro. Và hầu hết mọi người không chỉ mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm ôtô, mà còn tìm những nghề nghiệp có đồng lương tương đối ổn định.

Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubinfeld.
Kinh tế học vi mô
. Bản dịch tiếng Việt. Nhà xuất bản Thống kê.

Kinh tế học : Hai kỹ thuật phân tích tìm cái tối ưu và tìm sự cân bằng

Khi học kinh tế vi mô, bạn thường hay nghe nhắc đến TP, TC, AP, AC, MU, MP,… Ý nghĩa của sự vận dụng chúng là gì?

Kinh tế học dùng hai kỹ thuật phân tích quan trọng: (1) tìm cái tối ưu và (2) tìm một sự cân bằng. Đứng trước bất kỳ một vấn đề nào, trước hết bạn phải trả lời câu hỏi: “Liệu đó là vấn đề tối ưu hóa hay vấn đề tìm cân bằng?”

Làm sao phân biệt được 2 vấn đề này? Hãy nhìn vào bảng sau:

Vấn đề tối ưu hóa Vấn đề cân bằng
Liệu tôi nên mua một chiếc xe hơi mới hay nên dùng xe cũ một thời gian nữa? Liệu sang năm tới, giá xe hơi mới có chắc là thấp hơn không?
Liệu tôi sẽ làm việc sung sướng hơn hay sẽ phải bỏ cuộc chơi và sống bằng của bố thí? Liệu trợ cấp phúc lợi cho người thất nghiệp cao có làm tăng tỷ lệ thất nghiệp lên không?
Tôi nên mua một căn hộ riêng hay nên sống trong một căn hộ thuê? Cái gì quy định tỷ lệ giữa tiền thuê hàng năm một căn hộ với giá mua hẳn căn hộ đó?
Không biết luật chống ma túy nên nghiêm khắc hơn hay nên khoan dung hơn? Nếu dùng ma túy không bị buộc tội thì việc dùng ma túy có tăng lên không?
Liệu công đoàn của ta nên tiếp tục đình công hay tốt hơn hết là chấp nhận lời đề nghị của chủ? Đình công có làm tăng lương công nhân không?

Ta nhận thấy rằng các vấn đề tối ưu hóa có dạng sau: “Làm điều này hoặc làm điều kia, điều nào sẽ tốt hơn cho tôi (hoặc cho doanh nghiệp của tôi, cho đất nước, thậm chí cho cả loài người)?”. Nói ngắn gọn lại là: hành vi nào tốt nhất? Loại thứ hai, tức là các vấn đề cân bằng, lại là câu hỏi: “Cái gì lý giải cho sự kiện mà ta quan sát thấy? Nói cụ thể hơn, cái gì lý giải cho mức giá và số liệu hàng hóa mua bán trên thị trường?”

Có thể bắt gặp các vấn đề tối ưu hóa trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Mọi người kỹ sư phải cân nhắc xem chất liệu titan có tốt hơn thép không gỉ để làm một ăngten không, một ông tướng phải quyết định xem liệu nên tấn công hay phòng ngự, và một ông thầy thuốc lại phải cân nhắc xem nên kê đơn kháng sinh hay cho thuốc an thần. Kinh tế học có cả một hệ thống các cách phân tích những vấn đề tối ưu hóa, đủ căn cứ cho bất kỳ lĩnh vực áp dụng nào.

Khi giải quyết các vấn đề cân bằng, chủ yếu là phải hiểu rõ sự tác động lẫn nhau giữa hành vi của một cá nhân hay một hãng này với quyết định của một cá nhân hay hãng khác. Khi tiên đoán liệu việc đình công có làm tăng tiền lương hay không, chúng ta bắt buộc phải xét chẳng những đến các yêu sách của công nhân, mà còn xét đến cả sự phản bác của giời chủ, cùng với việc khách hàng của hãng có thể dễ dàng quay sang mua một sản phẩm cạnh tranh,v.v..

Mỗi một kỹ thuật nói trên sử dụng một công cụ nghiên cứu đặc trưng. Phân tích các vấn đề tối ưu hóa đòi hỏi phải hiểu biết các mối tương quan giữa các đại lượng tổng thể, bình quâncận biên. Kỹ thuật cơ bản dùng để giải quyết các vấn đề cân bằng là phân tích cung – cầu.

QC: Thiết kế thi công nội thất quán cafe

Kinh tế học : Tỷ giá hối đoái là gì?

Tỷ giá hối đoái là gì?

Theo PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn (2009, Thanh toán quốc tế, nhà xuất bản ĐH Quốc gia TP. HCM) thì:

  • Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ chuyển đổi từ đơn vị tiền tệ nước này sang đơn vị tiền tệ nước khác.
  • Tỷ giá hối đoái là quan hệ tỷ lệ so sánh giữa đồng tiền nước này với đồng tiền nước khác trên cơ sở hàm lượng vàng hoặc sức mua của các đồng tiền đó.
  • Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng bao nhiêu đơn vị tiền tệ nước khác.
  • Tỷ giá hối đoái là giá cả mua bán của một đồng tiền trong quan hệ so sánh với các đồng tiền khác.
  • Tỷ giá hối đoái là giá cả để mua bán trao đổi ngoại tệ.

Kinh tế học : Lạm phát (inflation) là gì? Các quan điểm về lạm phát?

Quảng Cáo: Thiết kế quán cafeThiết kế quán trà sữa

Bản thân tiền giấy không có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa. Do đó, khi có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm phát (inflation), nhưng nói chung chưa có một sự thống nhất hoàn toàn. Quan điểm cổ điển cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành. Cụ thể người ta dự vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không. Chẳng hạn nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ 40%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức. Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền. Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tôn trọng nhưng giá cả của hàng hóa đều lên cao. Nước Đức năm 1934 đã tránh được nạn lạm phát mặc dù tỷ lệ đảm bảo của đồng Mark xuống dưới 2%.

Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế. Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M.V=P.Y. Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa – dịch vụ được trao đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng. Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh. Để khắc phục tình trạng này cần dùng biện pháp thích hợp để thiết lập lại cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế.

Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc tăng trưởng mức cung tiền tệ cao. Thật ra trong nhiều trường hợp không hẳn là như vậy, nhà nước có thể tăng cung ứng tiền tệ mà không làm cho giá cả tăng, không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thông, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động). Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát. Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa. Thật ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi.

Vậy lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các lại hàng hóa tăng lên đồng loạt.

Theo PGS-TS. Sử Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh Hằng, Gs-TS. Dương Thị Bình Minh, Ths. Phạm Văn Hiếu, Ths. Nguyễn Anh Tuấn, TS. Bùi Thị Mai Hoài, TS. Diệp Gia Luật. 2008. Nhập môn tài chính tiền tệ. Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội. Hà Nội.